Tiết lộ bí mật trận địa pháo cổ lớn nhất Đông Dương ~ Công ty Bảo vệ Tân Trào - 19 năm cung cấp dịch vụ bảo vệ, vệ sỹ chuyên nghiệp

Công ty Bảo vệ Tân Trào - Tân Trào Security

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

Tiết lộ bí mật trận địa pháo cổ lớn nhất Đông Dương


Với trận địa pháo này, Pháp và Nhật đã từng coi là “bất khả xâm phạm” tới vùng biển Vũng Tàu - Cần Giờ. Nhưng chúng không thể ngờ lại bị quân và dân ta phá hủy, hóa giải thế trận này.
Đường lên trận địa pháo đồi Hoa Mai (nay thuộc núi Lớn, P.5, TP.Vũng Tàu) quanh co, ôm theo triền núi. Nhìn xuống là biển xanh mênh mông, nơi có những mái nhà ngói đỏ quanh năm lồng lộng gió. Trên lưng chừng núi cách mặt biển khoảng 100m, 6 khẩu pháo gần như còn nguyên vẹn nằm hướng ra phía biển, bị che phủ bởi cỏ tranh và các bụi cỏ dây leo. Bao quanh chỉ thấy cây rừng và ngôi nhà gỗ nhỏ của ông bảo vệ già ngay đầu lối vào trận địa pháo. Nơi đây, một thời lịch sử đã đi qua.
Trận địa “bất khả xâm phạm”
Vũng Tàu có một vị trí chiến lược khá thuận lợi về quân sự. Chính vì vậy, song song với việc xây dựng chính quyền tại Vũng Tàu, thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống đồn bốt, công sự, lắp đặt những trận địa pháo trên núi Lớn, núi Nhỏ, nhằm bảo vệ Vũng Tàu, phòng thủ, khai thác địa hình chiến lược này.
Trong vòng 15 năm, từ năm 1885 đến hết thế kỷ 19, Pháp mới xây dựng được các pháo đài, các trại lính với hơn 1.000 quân chiếm đóng. Việc hoàn tất các pháo đài trên núi Lớn, núi Nhỏ vào khoảng năm 1905. Hiện nay, giữa lưng chừng núi, 6 khẩu pháo của Pháp với trọng lượng hơn 15 tấn vẫn còn nguyên trên bệ. Pháo được bố trí rải hình vòng cung, mỗi khẩu cách nhau 17,5m, xung quanh là hệ thống hầm hào giao thông, trong một khuôn viên rộng hơn 1ha. Xen giữa các khẩu pháo là hầm trú ẩn. Các khẩu pháo từ bệ đến nòng đều giống nhau, có thể quay được 306o nhờ hệ thống đĩa có răng gắn với bệ pháo cố định. Sáu khẩu pháo nghếch nòng ra biển Đông phía Cần Giờ - TP.Hồ Chí Minh, bao quát án ngữ một vùng cửa biển.
Sở dĩ Pháp đặt các khẩu pháo ở lưng chừng núi Lớn bãi Dâu với mục đích bảo vệ Vũng Tàu, cửa biển Cần Giờ. Bởi khi đó, các tàu ra vào Sài Gòn đều phải theo cửa biển Cần Giờ, đó là một vị trí thuận lợi trong phòng ngự tấn công. Về mặt quân sự, Pháp sẽ kiểm soát được đường thủy trọng yếu ở vùng Đông Nam Bộ. Mặt khác, Pháp nhắm đến việc độc quyền mua bán, trao đổi hàng hóa ở thị trường Đông Dương. Nằm cách trận địa pháo không xa, dưới thung lũng kín đáo, là một hầm thủy lôi (loại vũ khí quân sự có sức công phá lớn như sấm sét, dùng để tiêu diệt các loại tàu phà chống phá dưới nước). Tuy cùng nằm ở một vị trí, nhưng đây lại là hai công trình quân sự hoàn toàn khác nhau.
Tháng 10/1941, Nhật đổ bộ vào Vũng Tàu và nhanh chóng chiếm vị trí quan trọng này. Lúc bấy giờ, bóng cờ chữ Nhật tròng đỏ nền trắng bay phấp phới trên tòa Bạch Dinh. Khắp nơi trên núi Lớn, núi Nhỏ, Nhật xây dựng nhiều lô cốt, hầm địa đạo, bố trí đại bác ở giữa lưng chừng núi. Nhật thả nhiều thủy lôi để ngăn chặn sự đổ bộ của quân đồng minh Anh  Mỹ. Một hệ thống thủy lôi dày đặc phong tỏa vùng biển Cần Giờ - Vũng Tàu, đến nỗi không một tàu đồng minh nào có thể cập bến Sài Gòn được. Số mìn phong tỏa bờ biển của Nhật từ 50  60 trái thủy lôi (mỗi trái nặng trên 100kg) mà Nhật đã gỡ ngòi chỉ còn thuốc.
Để có nơi chứa được số lượng thủy lôi nhiều vô số của mình, năm 1944, Nhật đã thuê công nhân xây dựng một hầm chứa thủy lôi trong vòng 4 tháng. Hầm được xây theo hình vòm, khá kiên cố với bề dày dãy tường đá  khoảng 1m, cao 7m, dài 20m, cửa hầm làm bằng sắt. Thủy lôi do xe chở tới, mỗi chuyến hai trái. Xe rùa đẩy thủy lôi vào hầm. Hầm thủy lôi được xây theo hình vòm, trên nóc đổ đá và xi măng, cửa làm bằng sắt. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật đầu hàng đồng minh. Chúng gỡ 32 trái thủy lôi dưới biển cho vào hầm. Nhật rút, Pháp tiếp quản khu này và gìn giữ bằng cách cho gài lựu đạn ngoài cửa hầm để bảo vệ.
Với hệ thống trận địa pháo này, thực dân Pháp từng coi Vũng Tàu là nơi bất khả xâm phạm, có thể quán xuyến, bao quát toàn bộ vùng biển Vũng Tàu. Nơi mà những người nông dân chân đất, áo vải làm cách mạng với gậy gộc là chính, thì làm sao có thể bén mảng tới gần những nòng pháo luôn sẵn sàng nhả đạn này. Nói gì đến chuyện họ có thể phá hủy chúng. Nhưng bọn chúng đã lầm.
Chiến dịch đánh chiếm hầm thủy lôi
Trong những năm kháng chiến chống Pháp lâu dài và gian khổ, quân dân Vũng Tàu, xã đảo Long Sơn đã cùng với quân dân Biên Hòa, Bà Rịa (Vũng Tàu lúc đó là một thị xã của tỉnh Bà Rịa), không những đánh bại những cuộc càn quét dài ngày của địch vào chiến khu D, rừng Sác. Họ còn vận động tiến sâu vào hậu địch đánh thắng nhiều trận oanh liệt. Xã Long Sơn của tỉnh Bà Rịa từng là nơi xuất phát của những đoàn quân cách mạng, đánh sâu vào sào huyệt của thực dân Pháp tại Vũng Tàu, lập nên những chiến công làm kinh hồn giặc. Trận tiến công đánh chiếm hầm thủy lôi, phá hủy trận địa pháo là một trong những chiến công như thế. Việc lấy thủy lôi trở thành một chiến dịch với sự tham gia của hàng trăm người, diễn ra hoàn toàn vào buổi tối.
Từ Bà Trao (núi Nứa  xã đảo Long Sơn), lực lượng vũ trang và an ninh của ta đã ém quân tại vị trí bàn đạp là cù lao bến Đình rộng 500 mẫu, có rừng được che chở trước khi đột nhập vào Vũng Tàu. Có một điều quan trọng và cũng hết sức thuận lợi là bao giờ núi Lớn địa bàn hoạt động của ta, mặc dù Nhật ra sức càn đi quét lại, đóng đồn, lập bót dày đặc ở khu vực này. Bởi vì gần ba ngàn người dân ở đây một lòng hướng về kháng chiến, tìm mọi cách hỗ trợ cho hoạt động kháng chiến của ta.  Dựa vào dân, lực lượng vũ trang đã nhiều lần đột nhập vào hầm đạn và hầm thủy lôi núi Lớn, đánh chiếm khí tài (vũ khí chiến đấu) của địch để trang bị cho ta.
Việc lấy thủy lôi trở thành một chiến dịch, lực lượng ta với hàng trăm người tham gia. Công việc này thường diễn ra vào lúc chiều tối. Kế hoạch đã được chuẩn bị chu đáo với tổ ám hiệu, canh gác, tháo gỡ lựu đạn, chuyển tải nuôi quân… Theo kế hoạch, khi có ám hiệu khói lửa, các chuyến ghe của ta ở Long Sơn từ từ cập sang bến Đá Vũng Tàu.

Tổ canh gác chia làm hai nhóm, một từ đầu dốc bến Đá và một gần khu vực tượng Phật Bà bây giờ. Tổ tháo gỡ lựu đạn sẽ cùng với đặc công, du kích, cảm tử quân Thắng Nhì vào hầm thủy lôi, người soi đèn, người  gỡ lựu đạn mở cửa, sao cho khi lấy xong gài lại như cũ. Nhóm chuyển tải thủy lôi ra ngoài với sự chỉ huy của đồng chí Ba Giao và đồng chí Uông gồng gánh nhau trèo lên sườn núi trong đêm tối mịt mù, khiêng thủy lôi xuống núi, chuyển thẳng ra ghe đồng chí Năm Tạc đã chờ sẵn, chở thuốc nổ về bến an toàn. Tổ lương thực gồm các bà, các chị lo vận chuyển thức ăn và dầu đốt đèn cho mọi người.
Dân quân xã Long Sơn, công binh xưởng Bà Rịa và cảm tử quân Vũng Tàu đã vận chuyển trung bình một lần hai trái thủy lôi ra khỏi hầm. Cuối tháng 6/1947, sau khi địch rút khỏi bót bến Đình, các hoạt động cơ sở của ta dễ dàng hơn. Trong thời gian này, được sự giúp đỡ của ban hành động, tổ quân báo thị xã, cùng với công sức của đồng bào phường Thắng Nhì, Bà Trao và xã Long Sơn, ban công binh xưởng Bà Rịa đã kiên trì lấy được 30 trái thủy lôi trên núi Lớn. Đây là kết quả của hơn 6 tháng bí mật phá hầm và vận chuyển thủy lôi của quân dân Vũng Tàu.


Hương Lam - Hoa Nguyên
Theo Người Đưa Tin

0 nhận xét:

Đăng nhận xét